Hoàng Ngọc Đường
Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn
![]() |
15 năm tái lập tỉnh (1/1/1997 - 1/1/2012) là một chặng đường không dài so với lịch sử hơn một thế kỷ xây dựng và phát triển của tỉnh Bắc Kạn, nhưng đây là một giai đoạn phát triển có ý nghĩa quan trọng, tạo nên những thay đổi mang tính bước ngoặt đối với sự phát triển của địa phương và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. 15 năm cũng đã là một khoảng thời gian đủ dài để Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Kạn nhìn lại một giai đoạn phát triển, xác định rõ lợi thế, tiềm năng cũng như nhìn nhận đúng những khó khăn, thách thức để vượt qua gian khó, vững bước đi lên.
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn bước vào năm mới 2012 với những thành tựu đáng tự hào của năm 2011 - một năm nỗ lực vượt qua khó khăn do tình hình khó khăn chung của kinh tế toàn cầu, kinh tế trong nước và các diễn biến bất thường của thời tiết. GDP tăng 13% so với năm 2010; Thu nhập bình quân đầu người đạt 14,6 triệu đồng, tăng 2,7 triệu đồng so với năm 2010. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 169.527 tấn, vượt 11% kế hoạch. Lương thực bình quân đầu người ước đạt 560 kg. Trồng rừng đạt 14.544 ha, vượt 21% kế hoạch. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 270.520 triệu đồng. Tiến độ giải ngân vốn XDCB xếp vào top khá của cả nước. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trên địa bàn ước đạt 2.200 tỷ đồng. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 307.746 triệu đồng, vượt 5,2% kế hoạch.
Toàn tỉnh có khoảng 800 doanh nghiệp đang hoạt động. Trong năm 2011, tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 08 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đăng ký 1.787,2 tỷ đồng. Tính đến hết năm 2011, toàn tỉnh có 26 dự án đang triển khai thực hiện với số vốn đăng ký 8.268 tỷ đồng. Tổng ngân sách cam kết của 20 dự án do các tổ chức phi Chính phủ tài trợ là 5.019.696 USD. Giá trị giải ngân đạt 759.600 USD. Tổng số vốn các dự án ODA là 2.804 tỷ đồng. Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao.
Trong kỳ tuyển sinh năm 2011, toàn tỉnh có 1.614 lượt học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp, tăng mạnh so với các năm trước. Công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân được duy trì và thực hiện có hiệu quả. Có thêm 6/11 xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế, nâng số xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế lên 55 xã. Tỷ lệ tốt nghiệp PTTH năm 2010-2011 đạt 93,61% (xếp thứ 44 trong số 63 tỉnh thành về tỷ lệ tốt nghiệp THPT). 85% hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh; 90% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia; đường đến trung tâm các xã từng bước được nâng cấp. Đến hết năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo ước giảm 6%, xuống còn 26,13%. Tỉnh ta đã từng bước rời khỏi vị trí những tỉnh nghèo nhất của cả nước, (nay ở vị trí thứ 9 trong số các tỉnh nghèo).
Từ những con số này, nhìn lại thời điểm tái lập tỉnh 15 năm trước, chúng ta càng ý thức được rằng nhờ tái lập tỉnh mà chúng ta đã có những bước tiến rất xa, đời sống được cải thiện rõ rệt, đó chính là nhờ sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Chính phủ, sự nỗ lực cố gắng vượt bậc của Đảng bộ, Chính quyền nhân dân các dân tộc tỉnh nhà. Còn nhớ thời điểm tái lập tỉnh, Bắc Kạn là một tỉnh miền núi khó khăn nhất cả nước, phải đối mặt với những thách thức thực sự lớn. Cơ sở vật chất nghèo nàn, kinh tế-văn hoá-xã hội phát triển ở trình độ thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao. Có thể nói, thời điểm đó tỉnh ta hội tụ các yếu tố không thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội. Hệ thống giao thông yếu kém, Quốc lộ 3 là huyết mạch duy nhất nối Bắc Kạn với Thủ đô Hà Nội, không có đường hàng không, đường sắt, đường thuỷ. Công nghiệp hầu như chưa có gì, điện đường trường trạm vừa thiếu vừa xuống cấp, trên 50% số xã không có đường ôtô, phương tiện đi lại.
Đặc biệt, đội ngũ cán bộ địa phương qua đào tạo vừa thiếu, vừa yếu. Địa hình chia cắt với trên 80% diện tích là đồi núi, đất rộng người thưa, nhưng lại là nơi thiếu đất canh tác, cả tỉnh chỉ có 14.000 ha đất ruộng. Tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp trong GDP chiếm tới 61,6%. Bình quân lương thực 270kg/người/năm, tỷ lệ đói nghèo chiếm gần 50% (theo tiêu chí cũ). Có thể thấy rằng trong giai đoạn đầu tái lập, tỉnh ta đứng trước rất nhiều thách thức trong đó nổi trội là công tác xoá đói giảm nghèo; xây dựng hạ tầng, phát triển công nghiệp và đào tạo đội ngũ cán bộ.
Đảng bộ và Chính quyền nhân dân các dân tộc tỉnh ta đã bắt tay xây dựng quê hương với xuất phát điểm rất thấp. Giai đoạn 1997-2005 là thời kỳ chúng ta lo từng bữa ăn cho đồng bào; giai đoạn 2005-2010 là thời kỳ chúng ta bắt đầu khởi sắc đi lên. Giai đoạn hiện nay chúng ta đang chuyển mình tạo những bước đột phá để đi nhanh hơn. Từ chặng đường 15 năm qua, chúng ta đã rút ra được nhiều bài học về vấn đề nắm bắt cơ hội, tranh thủ sự ủng hộ cũng như loại bỏ tư tưởng trông chờ ỷ lại, khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương để phát triển bền vững.
![]() |
| Mô hình lúa - mía cho thu nhập cao tại xã Cao Kỳ, Chợ Mới. |
Đặc biệt, kết quả 5 năm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2006-2010 là cơ sở quan trọng để tỉnh Bắc Kạn nhìn nhận lại và lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp với nội lực của địa phương. Công tác quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu thời kỳ hội nhập. Năng lực dự báo kinh tế, hoạch định chính sách đối phó tình huống của tỉnh còn chưa phù hợp, các giải pháp chủ yếu còn mang tính chất thụ động, chưa có những giải pháp tích cực đối với những biến động bất lợi của nền kinh tế. Đặc biệt, khi khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy giảm kinh tế trong nước xảy ra, nền kinh tế của Bắc Kạn đã bộc lộ những yếu điểm lớn.
Mặc dù được tập trung phát triển để trở thành mũi nhọn kinh tế, nhưng giai đoạn 2006-2010, ngành công nghiệp địa phương chỉ tăng trưởng bình quân 11,94%/năm trong khi chỉ tiêu kỳ vọng là 30%. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt thấp, bằng 60% kế hoạch. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng bình quân ngành nông-lâm nghiệp đạt 7,78%/năm, vượt mục tiêu 6,5%. Tỷ trọng ngành nông-lâm nghiệp trong cơ cấu GDP giảm trong 2 năm đầu nhưng lại tăng trong 2 năm tiếp theo do tỷ trọng ngành công nghiệp giảm. Tỷ trọng ngành nông-lâm nghiệp đã tăng từ 41,96% (năm 2005) lên 43,01% (năm 2010) trong khi ngành công nghiệp giảm từ 21,83% xuống còn 19,38%.
Ngành nông-lâm nghiệp chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu kinh tế đã phản ánh được tốc độ tăng trưởng mạnh và đang là ngành kinh tế chiếm ưu thế của tỉnh, đó chính là tiềm năng lợi thế của địa phương. Với mục tiêu ưu tiên phát triển bền vững và bảo đảm an sinh xã hội, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X (nhiệm kỳ 2010-2015) đã khẳng định rõ con đường đi lên của Bắc Kạn trong giai đoạn 2011-2015 với mục tiêu phấn đấu đến năm 2015, cơ cấu kinh tế của tỉnh là nông, lâm nghiệp, thuỷ sản - dịch vụ - công nghiệp. Nông-lâm nghiệp nghiệp là lợi thế và sẽ trở thành ngành kinh tế chủ lực của địa phương. Đây chính sự lựa chọn mang tính nền tảng, phù hợp với định hướng công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Trên cơ sở này, chúng ta phải xác định những lợi thế so sánh trong ngành nông-lâm nghiệp để tạo mũi nhọn phát triển. Thứ nhất, là thế mạnh đất rừng và kinh tế lâm nghiệp. Mục tiêu đến năm 2015 nghề rừng sẽ trở thành ngành sản xuất chính mang lại thu nhập ổn định của phần lớn người dân miền núi, đồng thời lâm nghiệp sẽ trở thành nền sản xuất hàng hóa giữ vị thế ngành kinh tế chủ lực trong cơ cấu GPD của tỉnh. Mục tiêu đến năm 2015 đưa phần lớn nhân dân miền núi vào kinh doanh nghề rừng, bình quân hàng năm trồng mới 12.000ha rừng. Xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung và ổn định, mỗi năm cung cấp 300.000-500.000m3 gỗ nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến gỗ, cùng với các nhu cầu lâm sản cho tiêu dùng như gỗ xây dựng, gỗ gia dụng các loại. Thâm canh cây lương thực đảm bảo bình quân lương thực đầu người đạt trên 500 kg. Phát triển mạnh cây trồng đặc sản như cam quýt; hồng không hạt; khoai môn; dong riềng; thuốc lá. Thứ hai, cần tập trung phát triển đó là chăn nuôi đại gia súc và các sản phẩm nông sản đặc sản. Tỉnh sẽ ưu tiên đầu tư, khuyến khích bà con nông dân áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển các vùng sản xuất tập trung; phát triển mạnh các cây trồng đặc sản như hồng không hạt, quýt, gạo bao thai, rau xanh, hoa tươi... Chủ động các phương án về giống và phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc. Mục tiêu là tạo ra các sản phẩm hàng hoá chất lượng cao, gia tăng giá trị cho sản phẩm nông nghiệp bản địa và tham gia vào các thị trường lớn trong toàn quốc.
Để nông-lâm nghiệp thực sự trở thành thế mạnh phát triển, cần phải có liên kết "4 nhà" mới đạt được kết quả và đi tới thành công. Hiện nay, Bắc Kạn đang đi những bước đầu tiên, có tầm chiến lược và quyết tâm rất cao. Ngay trong năm 2011-2012, tỉnh sẽ xây dựng xong Quy hoạch phát triển nông thôn mới cho tất cả các xã theo Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ; đồng thời triển khai đề án phát triển cho các cây trồng, vật nuôi cụ thể. Đến nay, thông qua việc thực hiện các chương trình, đề án, bước đầu đã hình thành vùng sản xuất tập trung đối với một số cây ăn quả, cây công nghiệp, cây đặc sản có giá trị kinh tế cao. Đồng thời, tạo vùng nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến, làm thay đổi tập quán sản xuất của người dân, góp phần quan trọng trong công tác giảm nghèo. Bên cạnh đó, tỉnh đang tích cực triển khai nhiều dự án phát triển cho từng sản phẩm nông sản cụ thể, đồng thời nhanh chóng thực hiện bảo hộ các chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm nông sản đặc sản.
Sau một năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X, trên lĩnh vực nông nghiệp đã có nhiều chuyển biến rất tích cực. Đặc biệt, diện tích trồng rừng cũng như sản lượng lương thực đạt cao nhất từ trước tới nay. Nhiều cây trồng bản địa và đặc sản nông nghiệp đã được tổ chức sản xuất theo qui mô hàng hoá.
Song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, tỉnh luôn quan tâm đến việc củng cố an ninh quốc phòng quân sự địa phương, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Công tác tuyển quân hàng năm luôn đạt chỉ tiêu đề ra, chất lượng các đợt diễn tập quân sự đạt khá, năm 2011 được Quân khu đánh giá cao. Tình hình an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.
Bên cạnh những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực, tỉnh ta vẫn còn những tồn tại cần khắc phục đó là: Về kinh tế: so với cả nước Bắc Kan vẫn là tỉnh nghèo (thu nhập bình quân đầu người chỉ bằng ½ so với bình quân chung của cả nước); Chất lượng giáo dục; y tế vẫn còn có vấn đề, tỷ lệ lao động được đào tạo còn thấp, một số tai tệ nạn xã hội còn có chiều hướng gia tăng, công tác quản lý về khai thác khoáng sản, lâm sản chưa được chặt chẽ, diễn biến tình hình còn phức tạp, tai nạn giao thông gia tăng...
Từ những kết quả, bài học của 15 năm qua, chúng ta có thể tự hào với những thành quả đáng trân trọng đó. Nhiệm vụ trong những năm tiếp theo còn hết sức nặng nề, chúng ta cần khơi dậy truyền thống quý báu đoàn kết, nỗ lực vượt khó của nhân dân các dân tộc trong tỉnh; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, thực hiện điều hành có hiệu quả của các cấp chính quyền; năng động sáng tạo trong công việc, có những giải pháp phù hợp. Tin tưởng rằng, hoà cùng sự phát triển của địa phương, của đất nước, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn ngày càng được nâng cao, ngày càng có nhiều cơ hội để xoá đói, giảm nghèo và làm giàu trên chính quê hương mình. Nhân dịp đầu năm mới, tôi xin gửi tới nhân dân các dân tộc trong tỉnh lời chúc sức khoẻ, hạnh phúc và thành công./.
H.N.Đ

