Bắc Kạn:
Những khó khăn ở Trường Mầm non Thượng Quan
15:14' 25/05/2009 (GMT+7)

 

Hiện nay, Trường Mầm non Thượng Quan (Ngân Sơn) có 1 điểm trường chính, 7 phân trường, trong đó có phân trường cách trường chính mấy chục ki- lô -mét. Chính vì vậy, công tác huy động trẻ trong độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo ra lớp ở nơi đây còn đó những khó khăn.

Các giáo viên Trường Mầm non Thượng Quan ở trong những căn phòng lụp xụp

Trường Mầm non Thượng Quan có 124 học sinh, 15 cán bộ, giáo viên thì tại trường chính chỉ có 35 học sinh số học sinh còn lại tập trung ở các phân trường lẻ. Khó khăn nhất là hệ thống giao thông đến các phân trường.

Thượng Quan Là xã vùng cao có địa hình rộng, dân cư không tập trung, với diện tích tự nhiên hơn 16.000 ha, 22 thôn bản nên việc huy động trẻ em trong độ tuổi ra lớp hết sức khó khăn. Theo ông Chủ tịch UBND xã Thượng Quan thì 60% dân số của xã là người Dao, trước đây họ sống du canh, du cư hiện nay đã định canh định cư nhưng đều ở các đỉnh núi cao, cuộc sống chủ yếu phụ thuộc vào trồng ngô nương. Có thôn cách trường chính khoảng 1 ngày đường đi bộ. Cả xã có 22 thôn bản.  100% các phân trường đều là nhà tạm hoặc mượn nhà họp thôn.

Cô giáo Nguyễn Thị Tý, Hiệu trưởng Trường Mầm non Thượng Quan cho biết: Hiện nay, tại điểm trường chính đã được xây dựng 2 phòng học, có nhà vệ sinh, sân chơi, nhà bếp…từ nguồn vốn cụm xã năm 2008 nên các em một số thôn vùng thấp được học tập trong không gian thoáng, đẹp, sạch sẽ, trẻ đã có sân chơi, có đồ dùng học tập trực quan sinh động. Tuy còn nhiều khó khăn nhà trường đã xây dựng được cho trẻ 3 lớp bán trú học sinh được ăn theo thực đơn dinh dưỡng theo từng lứa tuổi nên tỉ lệ suy dưỡng giảm các bậc phụ huynh rất phấn khởi.

Một năm trở lại đây trẻ em tại trường chính của Trường Mầm non Thượng Quan có sân chơi bổ ích

ở các thôn vùng thấp thì 100% số trẻ trong độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo được huy động đến trường. Tuy nhiên các thôn vùng cao số trẻ được huy động đến trường rất thấp, một mặt do cơ sở vật chất thiếu thốn mặt khác một số thôn xa trung tâm không có điểm trường nên trẻ không có điều kiện ra lớp. Toàn xã có khoảng 50% trẻ được huy động ra lớp.

Hiện nay đường đến trung tâm xã Thượng quan đã đi lại dễ dàng nhưng đường đến các thôn, bản vùng cao hết sức gian nan. Toàn xã có trên 44% số hộ nghèo, tập trung ở các thôn vùng cao thiếu đất canh tác. Những năm trước do không hiểu biết nên tình trạng sinh con thứ 3 trở lên nơi đây rất phổ biến, số hộ gia đình có 10 con trên 10 con không phải là chuyện hiếm nên cuộc sống của người dân rất khó khăn, thiếu ăn thường xuyên nhất là trong thời kì giáp hạt. Hiện nay, tỉ lệ sinh con thứ ba trở lên đã giảm hẳn, tuy nhiên do đói nghèo thiếu thốn, nên trẻ em nơi đây chưa được quan tâm đúng mức.

Các cô giáo ở nơi đây gặp rất nhiều khó khăn, 15 cán bộ, giáo viên chủ yếu là người địa phương khác lên công tác. Có tới 7 cô giáo “cắm bản” tại các điểm trường vùng cao. Để đến được một số phân trường các cô phải đi bộ, giống như người dân nơi đây muốn ra ngoài trung tâm cũng chỉ còn cách đi bộ, hoặc vận chuyển bằng ngựa. Bao đời nay, đối với họ đôi vai là phương tiện chuyên chở và đôi chân là phương tiện tham gia giao thông. Đã vậy, các thôn vùng cao dân cư không tập trung, có nơi chỉ vài học sinh. Chính vì vậy, thay vì họp hội đồng hằng tuần nhà trường chuyển sang họp theo 2 lần/tháng vì các cô ở điểm trường xa. Như thôn Khuổi Bin, Sam Coóc, các cô phải đi xe máy khoảng 70 km từ Thượng Quan sang xã Vũ Loan (Na Rì) sau đó gửi xe đi bộ khoảng 10 km mới đến được phân trường để dạy học. Do địa hình xa nên mỗi lần “hạ sơn” họp hội đồng nhà trường các cô đều tranh thủ mua các nhu yếu phẩm như: Dầu hoả, cá mắm, mì tôm, gạo, đồ hộp…đủ dùng trong 2 tuần và khi quay lại thì lại vác ba-lô ngược rừng như các cô thanh niên xung phong thời chiến. Do trẻ em người dân tộc thiểu số đa phần không biết tiếng phổ thông mà các giáo viên dạy trẻ mẫu giáo nơi đây chủ yếu là người địa phương khác nên các cô đều học tiếng địa phương vừa để giao tiếp  với người dân vừa thuận lợi trong cách dạy trẻ. Nhiều lúc cả cô và trò đều học.

Ngay cả điểm trường chính hiện nay cũng rất khó khăn. Toàn trường chính có 12 nhóm lớp , mới có 4 phòng học, phòng hiệu bộ, nơi làm việc cho giáo viên cũng không có. Hiện có 7 cô giáo ở tập thể, trong 5 phòng chật hẹp, lụp xụp, mái tranh. Nhìn các căn phòng có cảm giác chỉ cần một cơn gió lớn là đổ sập. Tuy nhiên, nhiều năm nay các cô đều tá túc trong những căn phòng tuềnh toàng này. Các cô cho biết nắng lên còn đỡ, chứ lúc mưa bão cứ lo ngay ngáy không biết sập lúc nào. Có cô giáo vừa mới sinh con, hết thời gian nghỉ thai sản, quay lại trường hai mẹ con ở trong căn phòng chật hẹp, bước vào cửa đã là giường ngủ nhưng tất cả khó khăn các cô đều nỗ lực vượt qua vì nhiệm vụ giáo dục nơi vùng cao.

Khi chia tay cô giáo Tý tâm sự: Tất cả giáo viên nhà trường đều tận tâm phục vụ lâu dài nơi vùng cao, nhiều khó khăn chúng tôi đã cùng nhau vượt qua và chỉ mong muốn nhà trường có nhà tập thể vững chãi, không phải lo những ngày mưa bão, để yên tâm giảng dạy cho các trẻ nơi đây.

Bài, ảnh P.V

 

 

Ý kiến của bạn

*
*
*
,
,
,
,