Gieo chữ trên bản Khau Qua
19:09' 13/11/2009 (GMT+7)

Toạ lạc ở lưng chừng núi, sát bên dòng suối nhỏ hiền hoà, phân trường thôn Khau Qua, xã Nam Mẫu (Ba Bể) với vẻn vẹn 5 lớp học, với một khung cảnh hữu tình đẹp như một bức tranh thuỷ mạc, không khí trong lành và yên bình khiến con người cảm thấy thư thái giữa thiên nhiên. Thế nhưng, trong cái vẻ đẹp nên thơ gần như hoang sơ của núi rừng, còn chất chứa bao nhiêu nỗi niềm và sự hy sinh thầm lặng của giáo viên ở những phân trường vùng cao. Họ đang từng ngày cần mẫn gieo những nầm non cho tương lai ở nơi thâm sơn cùng cốc này.

Cô giáo Lưu Thị Lan với thâm niên 13 năm là giáo viên cắm bản cười: “trước kia khi còn đang đi học, mình cũng có theo đuổi lý tưởng sau khi ra trường sẽ lên vùng cao, đưa cái chữ đến với đồng bào. Nhưng thực tế lại khác xa những gì mình nghĩ, ngày ấy, mẹ mình rất buồn vì nghĩ không biết đến khi nào con gái mới có cơ hội để về gần nhà, bà chỉ lo mình lấy chồng ở đây rồi không về quê nữa”. Thế rồi may mắn hơn nhiều giáo viên cắm bản khác phải chôn vui tuổi xuân giữa chốn sơn cốc, chị Lan lập gia đình với một anh bộ đội và có 2 cậu con trai kháu khỉnh, nhưng cả nhà cũng chỉ gặp nhau được một ngày cuối tuần, thương con, bao nhiêu tình yêu thương chị dành cả cho đám trẻ nghèo vùng cao. Nhiều lúc nhìn học sinh vui đùa, chị nhớ gia đình nhỏ đến rớt nước mắt. Thế rồi mãi cũng quen với không gian tĩnh lặng nơi đây, lại thấy yêu vô cùng cái thanh bình và nét thơ ngây của học sinh.


Những thầy, cô giáo trẻ vừa mới vào nghề, vẫn đang quen với cuộc sống sinh viên, chưa phải vật lộn với cuộc sống nhiều khó khăn, tuy có thể hình dung ra cuộc sống thiếu thốn ở nơi rẻo cao này, nhưng đến khi thực sự đối mặt với nó, mới thực sự hiểu được. Diễn - sinh ra và lớn lên ở bản Pác Ngòi (Nam Mẫu), cô giáo trẻ nhất phân trường thôn Khau Qua tâm sự: “những ngày đầu lên đây, nỗi nhớ nhà cộng thêm cái tĩnh mịch và cuộc sống đều đều ở nơi này khiến em nhiều khi không chịu nổi, càng ngày càng thấm thía những câu ngày còn đi học bạn bè thường đùa nhau, rằng sau này đứa nào lên núi thì chỉ có ế chồng, ở bản này, những thanh niên người Mông mới 15 tuổi đã lấy vợ, nhìn đi nhìn lại, mình là người già nhất trong đám thanh niên trong làng, cứ thế này thì cũng ế thật chứ chẳng chơi”.

 

Cô trò phải học trong những lớp học còn nhiều khó khăn thiếu thốn


Cả trường chỉ có 4 cô giáo, 2 thầy giáo, lương và trợ cấp miền núi khá cao, nhưng vẫn chẳng ai muốn ở, vì lương có cao cũng không có gì để mua. Quãng đường từ trung tâm xã vào tới thôn chỉ hơn 10km, nhưng phải đi mất hơn 2giờ  đồng hồ mới qua được. Con đường mòn ngoằn ngoèo nằm vắt ngang sườn núi, chỉ đủ cho 1 xe máy đi qua, 2 xe ngược chiều nhìn thấy nhau từ xa đã phải chọn 1 chỗ đứng tránh. Những ngày trời nắng đã vậy, nhưng những hôm trời mưa thì đoạn đường đất nhầy nhụa bỗng trở thành 1 mối nguy hiểm khôn lường, chỉ bất cẩn một chút là có thể bị con đường trơn ấy hất thẳng xuống vực.

Còn nhớ một lần, có em học sinh chạy thẳng đến trường báo với các giáo viên “nhìn thấy thầy giáo đi nhanh hơn xe máy”, mọi người chạy theo mới biết thầy bị ngã xe, xe mắc lại trên đường, còn thầy lăn xuống vực, cũng may chỗ ấy nhiều cây cỏ, thầy giáo mắc lại nên chỉ bị xây xước nhẹ, nhưng cả trường được một phen hú vía. Các cô giáo vẫn đùa nhau, bây giờ mà đi thi lại bằng lái xe máy, thì phải được đặc cách môn thi thực hành, mà đúng là nên làm như thế thật, những người mới đi đoạn đường này không khỏi giật mình thon thót, vậy mà cứ mỗi cuối tuần, những thầy cô giáo ở đây lại chở gạo, lương thực, mắm muối, nhu yếu phẩm vượt qua con đường gian khó, tiếp tục những ngày tháng gieo mầm sống trên mảnh đất còn nhiều gian truân này.

Giếng nước ăn bên suối của các giáo viên

Tuy nhiên sự mong ngóng được trở về thành phố được những giáo viên trẻ này bù đắp bằng những sự cố gắng trong nghề nghiệp, để thấy các em học sinh học khá hơn, học sinh miền núi không được dạy cách xem trọng việc học ngay tử khi còn nhỏ như trẻ thành phố, đơn giản vì cha mẹ các em hầu hết chưa học qua trung học, cuộc sống lại phụ thuộc vào nông nghiệp, vì vậy, việc đầu tiên các thầy cô giáo miền núi phải đối mặt, không phải là vấn đề vật chất cảu bản thân, mà là làm sao thuyết phục được các em học sinh đi học đầy đủ, trong khi các em phần lớn phải lo làm nương rẫy phụ bố mẹ. Thầy giáo Trinh cũng đã cắm bản được hơn 4 năm cho biết: “ chúng tôi gắn bó với ngôi trường nhỏ này chủ yếu vì thương các em học sinh miền núi, nếu ai cũng muốn về thành phố cho nhanh thì sẽ chẳng có ai dậy dỗ các em nhỏ cả. Tuy vất vả thiếu thốn 1 chút nhưng nhiều khi cũng vui lắm, bới người dân ở đây rất quý giáo viên, mỗi lần có rau cỏ hay thịt lợn, đều mang cho các thầy cô, con người ở đây rất thuần hậu và chân chất, hơn nữa các em nhỏ cũng ngoan hơn và ngây thơ đến tồi tội”. Cuộc sống ở đây tuy vắng vẻ nhưng cũng có những cái vui riêng, mỗi giáo viên phải có một “ngón nghề riêng” đôi khi nói ra thấy thật ngộ nghĩnh để khơi dậy niềm say mê học tập trong các em nhỏ.


Cuộc sống còn nhiều thiếu thốn được những người trẻ khoả lấp bằng lòng nhiệt huyết với nghề. Những con người xa lạ đến với mảnh đất này trở thành một gia đình nhỏ, bỗng chốc trở thành cha mẹ của 44 em học sinh. Phải thấy cảnh các thầy cô giáo tắm gội cho các em nhỏ, nhắc nhở các em từ việc phải biết đội mũ khi trời nắng, uốn nắn từng nét chữ, dạy nói những câu đơn giản như vâng dạ, xin lỗi, cảm ơn mới hiểu hết câu “cô giáo như mẹ hiền”.

 
Thầy Phùng Văn Thế một người con của xã Nam Mẫu, vẫn luôn tự hào với “lịch sử 14 năm cắm bản” , 14 năm so với một đời người không hẳn là dài, nhưng với những người trẻ đó hẳn là những tháng ngày không thể nào quên ở nơi rừng thiêng nước độc. Thầy nói “điều kiện của địa phương mình còn nghèo, hiện tại có 5 phân trường mà số lượng học sinh tại đây lại nhiều hơn các em ở trường chính, học sinh ở nơi này cần mình lắm, bỏ các em đi cũng không đành, chỉ mong sao sớm được thấy con đường đến lớp của các thầy cô giáo bớt nhọc nhằn hơn, và các em học sinh có điều kiện học hành vui chơi như đúng lứa tuổi của các em”. Thầy phì cười khi nghe tôi hỏi thầy không định chuyển về ở gần vợ con à, “14 năm cắm bản, tớ dạy tới 2 thế hệ học sinh trong một gia đình, chắc dậy đến thế hệ thứ 3 rồi nhận sổ về hưu với vợ con là vừa rồi”.

Nhìn nụ cười hóm hỉnh của thầy tôi thầm nghĩ những người trẻ này đã gieo mầm sống cho một cuộc sống mới ở nơi đây, chính tình yêu nghề, yêu những tâm hồn thuần hậu của đồng bào, yêu mảnh đất thanh bình này đã kéo anh ở lại nơi đây. Hàng năm, những thầy cô giáo trẻ vẫn liên tục lên miền rẻo cao xoá mù chữ, gieo ánh sáng tri thức cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số. Bên những công việc thầm lặng và cao quý ấy, có thể vẫn còn những tiếng thở dài vì điều kiện kinh tế khó khăn hay những nỗi sợ hãi nới rừng thiêng nước độc, nhưng sẽ không có điều gì làm cho họ bỏ cuộc.

 Phạm Ngân- Đại Nam

Ý kiến của bạn

*
*
*
,
,
,
,