Những ngôi trường chênh vênh trên núi ẩn mình trong sương sớm vùng cao, nơi ấy có các thầy cô hằng ngày vượt khó bám lớp, bám trường nhằm “cõng chữ” lên non. Họ đa phần còn rất trẻ đầy nhiệt huyết, yêu nghề họ thấy được trách nhiệm của mình đối với học sinh dân tộc thiểu số vùng cao. Dù khó khăn vất vả, dù một mình giữa rừng vắng họ vượt qua vì sự nghiệp “trồng người” đó là các thầy, cô giáo nơi các phân trường vùng cao thuộc huyện Ngân Sơn
Nhọc nhằn “gieo chữ”
Cứ nghe kể về hành trình đến với các phân trường vùng cao thuộc huyện Ngân Sơn, ai cũng lắc đầu, ngán ngẩm ,bởi đường đến các phân trường vô cùng khó khăn, vất vả, đến được nơi đã khó, việc vận động học sinh ra lớp cũng là vấn đề nan giải bởi học sinh đa phần có hoàn cảnh khó khăn và là người dân tộc thiểu số khi bước vào bậc tiểu học chưa biết tiếng phổ thông, hơn thế các bậc phụ huynh chưa mặn mà với việc học của con em vì theo họ “cái chữ không làm no bụng được”. Các giáo viên khi đến nhiều phân trường chi còn cách đi bộ leo núi vài cây số, chỗ nào đông dân còn có chỗ ở trọ nếu không thì sẽ ở các lán tạm do phụ huynh làm cho. Vì nhà của đồng bào vùng cao thường ở không tập trung mỗi người ở một quả đồi. Là cô giáo trẻ mới ra trường, cũng là người địa phương cô giáo Ma Thị Đới đã trở về quê hương công tác, với ước mơ đưa chữ đến với các thôn bản vùng cao. Cô được phân công dạy tại phân trường Slam Coóc, thuộc trường Tiểu học Thượng Quan. Từ trường chính để đến được phân trường cô phải đi xe máy gần 70 km sang xã Vũ Loan, huyện Na Rì và đi bộ gần 10 km, nếu không cô sẽ phải đi bộ khoảng 2 ngày đường rừng mới đến nơi (khoảng 35 km đường rừng). Dù là người miền núi nhưng lần đầu đến Slam Coóc cô không khỏi ngỡ ngàng vì đây là thôn có 100% số hộ là người Dao, giáp 3 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Kạn.
|
Lớp ghép hai trình độ tại phân trường phja Đắng |
Toàn thôn có 22 hộ thì 17 hộ nghèo, cuộc sống chủ yếu sựa vào nương rẫy, nhà của họ cách xa nhau hàng quả đồi. Phân trường Slam Coóc là một căn nhà tạm được các phụ huynh dựng lên họ cũng dựng luôn cho cô giáo một chiếc lán tạm để sinh hoạt vì cô không thể ở trọ nhà dân vì khoảng cách quá xa. Tại đây cô dạy cho 8 học sinh với 3 trình độ, 1,2,3. Cô tâm sự lúc đầu thấy rất khó khăn vì học sinh nói tiếng Việt chưa sõi, khi nói chuyện với nhau các em chủ yếu giao tiếp bằng tiếng dân tộc mình, sau này để giảng dạy tốt cô và trò đều phải học cô thì học tiếng dân tộc địa phương, còn học sinh học tiếng Việt. May mắn cho cô Đới tại phân trường có cô Nguyễn Thị Hằng, cũng là giáo viên mới ra trường, dạy tại phân trường mầm non Slam Coóc, nên cứ cuối tuần hai cô lại khăn gói vượt 10 km đường rừng xuống núi ra Vũ Loan (Na Rì) và theo quốc lộ 279 về nhà ở Thuần Mang (Ngân Sơn), do địa bàn xa, khó đi lại nên thay vì họp hội đồng hằng tuần nhà trường phải chuyển ra họp 2 lần/tháng.
Mỗi lần “hạ sơn” hai cô phải chuẩn bị đủ thứ sinh hoạt từ gạo, mắm, muối, mì tôm, thức ăn thì đa phần là đồ hộp và cá mắm. Rau xanh tại đây cũng rất hiếm nên các cô tranh thủ trồng vài luống nhưng nơi đây cao và lạnh lại thiếu nước nên việc chăm sóc vài luống rau cũng rất khó khăn. Cuối thu nhưng tại nơi vùng cao cái lạnh đã bắt đầu lẩn khuất, bản làng sương mù giăng kín, phân trường chìm trong sương, các cô thấy xót xa vì học sinh nơi đây nghèo lắm nhiều em đến trường phải mặc quần áo rách, đi chân trần, nhiều lúc các em đi bộ mệt, có em đói khóc cô phải nướng khoai sắn cho các em ăn ấm bụng để có sức học tiếp. Cô Đới thở dài, ứa nước mắt, bây giờ mới cuối thu đã lạnh, đến mùa đông các em có đủ áo ấm để mặc không? Giữa rừng vắng hai cô giáo với chiếc đèn dầu leo lắt, các cô thường tranh thủ soạn bài sớm vì trời chiều nơi vùng cao tối rất nhanh. Khi được hỏi các cô có thấy nản khi ở bám chốt phân trường nơi vùng cao hiu hắt này? Hai cô đều quả quyết dù khó khăn đến mấy các cô cũng vượt qua ở đây dù thiếu thốn nhưng tấm lòng cuả người dân luôn rộng mở, chân thành nếu ai cũng ngại khó, ngại khổ thì những học sinh nơi đây làm sao tiếp cận được với cái chữ.
Cùng trong cảnh nhọc nhằn “cõng chữ” thầy Nguyễn Hoàng Thanh, đã có hai năm ở tại phân trường Khuổi Bin, một phân trường vùng cao thuộc trường tiểu học Thượng Quan. Đây là thôn giáp với thôn Slam Coóc hành trình của thầy cũng vậy, vượt sang Vũ Loan (Na Rì) và gửi xe đi bộ hơn chục km đường rừng mới đến được phân trường. Đường đến được Khuổi Bin còn khó hơn đến Slam Coóc, mọi người men theo lối mòn, trời nắng còn đỡ, trời mưa trơn trượt, đầy vắt rừng. Đây là thôn 100% người Dao di cư từ Thạch An (Cao Bằng) đến, 100% số hộ thuộc diện đói nghèo. Hiện thầy Thanh dạy lớp ghép hai trình độ1, 2 với 5 học sinh, thầy kể mới đầu toàn phân trường có 8 học sinh nhưng 3 học sinh do phân trường Khau Liêu gần hơn nên đã sang đó học. Phân trường là lán tạm do phụ huynh dựng lên may mắn hơn do gần nhà dân nên thầy Thanh đã có nơi ở trọ. Là thầy giáo của bản nên thầy Thanh luôn được người dân và học trò quý mến. Thầy Cho biết: Học sinh nơi đây vô cùng thiếu thốn, đến cái ăn cũng không đủ nên các em thường nhỏ bé, gầy gò, quần áo rách rưới. Nhiều em để đến được phân trường phải đi bộ vài km qua các triền núi, tuy còn nhỏ nhưng các em đã phải đi nương giúp gia đình. Thầy kể: Mùa đông nơi đây thường đến sớm và rất lạnh, các em đến lớp thường không đủ ấm, chân đất, đầu trần đa phần chưa nói sõi tiếng Việt nên thầy thường hướng dẫn các em bằng tiếng Dao sau đó chyển sang tiếng Việt và chú trọng luyện âm cho trẻ. Nhìn những đôi mắt thơ ngây khao khát được học chữ thầy thấy ấm lòng nhưng cũng thật buồn vì các em quá nghèo nên các em không có điều kiện theo học ở những bậc học cao hơn.
Hai phân trường Slam Coóc và Khuổi Bin là xa nhất so với 10 phân trường vùng cao thuộc trường Tiểu học Thượng Quan. Để đến được các phân trường các thầy cô đa phần đều phải đi bộ, trong 10 phân trường thì có 6 phân trường là lán tạm.
Tuy địa bàn không rộng như xã Thượng Quan nhưng các cô giáo ở các phân trường thuộc trường Mầm non Thượng Ân (Ngân sơn) cũng gặp khó khăn không kém. Là xã có 4 phân trường vùng cao là Hang Slậu, Phja Pảng, Bản Duồm và Khuổi Slảo.Các cô giáo nơi đây chỉ có cách đi bộ mới đến được phân trường từ 6 đến 8 km. Cô Yến, người thị xã Bắc Kạn lần đầu lên phân trường Hang Slậu, phân trường là một ngôi nhà tạm nằm chênh vênh giữa đại ngàn trùng điệp, sự vắng vẻ khiến cô không khỏi chạnh lòng. Mới đầu ở cô thấy rất sợ nên phải bảo chồng đưa lên và ở cùng mấy ngày nhưng sau đó cô thấy quen dần, cô đem theo con trai mới khoảng 2 tuổi lên ở cùng, một mình nơi rừng vắng lại nuôi con nhỏ khó khăn chồng chất nhưng cô luôn nỗ lực vượt qua, cô tâm sự: Dù vất vả nhưng so với trẻ em nơi đây chúng còn khó khăn hơn nhiều. Việc huy động trẻ đến lớp đã rất khó khăn việc duy trì được lớp học còn khó khăn gấp bội vì các em chủ yếu là con nhưng hộ nghèo, cuộc sống chủ yếu dựa vào nương rẫy, các em rất thiếu thốn nên đa phần bị suy dinh dưỡng. Dể dạy trẻ cô cũng học tiếng dân tộc địa phương và luôn tận tình chu đáo trong luyện âm cho trẻ để trẻ thuận lợi hơn khi bước vào bậc tiểu học, các em rất vui và rât thích học những bài hát, trò chơi…nhìn những điệu cười trong sáng, hồn nhiên cô thấy thêm yêu nghề.
Nghĩa tình nơi vùng cao
Cô Doanh Thị Hạnh, Phó phòng Giáo dục huyện Ngân Sơn cho biết: Chuyện giảng dạy và sinh hoạt đối với các thầy cô nơi phân trường vùng cao hết sức khó khăn vất vả. Tính đến nay toàn huyện Ngân sơn có 54 phân trường vùng cao, có 65 lớp ghép trong đó có 2 lớp ghép 3 trình độ. Chính vì có nhiều lớp ghép nên chất lượng dạy chưa được cao, do địa bàn rộng dân cư không tập trung nên để đến được các phân trường vùng cao hết sức khó khăn cho cả cô giáo và học sinh tuy nhiên các cô giáo đều yêu nghề và có tâm huyết với nghề hết lòng vì học sinh.
Không thể nói hét được những khó khăn vất vả mà các cô giáo vùng cao đặc biệt là giáo viên các phân trường đang hằng ngày phải đối mặt. Không những thế nhiều giáo viên dạy tại phân trường vùng cao thuộc các xã, thị trấn không thuộc diện xã 135 đều không được hưởng chính sách thu hút cho giáo viên dù số giáo viên từ điều kiện đi lại, sinh hoạt cũng vất vả không kém các giáo viên dạy tại các phân trường vùng cao các xã thuộc diện 135. Tại phân trường Phja Đắng (thị trấn Nà Phặc) hằng ngày dù trời mưa hay nắng các giáo viên vẫn lặn lội đi bộ vượt qua gần 5 km đường rừng để đem con chữ đến với các em dân tộc Mông, Dao các cô giáo công tác trên thôn vùng cao Phja Đắng từ nhiều năm nay vẫn không có thêm khoản thu hút nào khác ngoài lương vì các cô công tác trên thôn vùng cao mang danh nằm trên đất thị trấn (các thôn vùng cao của thị trấn Nà Phặc đã được công nhận là thôn vùng cao đặc biệt khó khăn). Trong khi đó, phụ cấp dành cho khu vực các cô chỉ được nhận 0,5% thay vì 0,7% như ở các xã thuộc diện 135. Đây là những bất cập không chỉ đối với các giáo viên công tác trên Phja Đắng mà tất cả các giáo viên công tác ở điểm phân trường vùng cao ở các xã không thuộc diện 135 đều không được hưởng chính sách thu hút nào. Mặc dù vậy, những cô giáo nơi đây vẫn đến với các em bằng tình thương yêu, trách nhiệm nghề nghiệp và vì tương lai của những học trò nghèo vùng cao.
Công tác nơi các phân trường vùng cao các cô không chỉ nỗ lực vượt khó hết lòng “gieo chữ’ mà trong hoàn cảnh khó khăn ấy, các thầy cô đã luôn vận động, quyên góp tại các điểm trường chính, trong đội ngũ giáo viên…để lấy những hạt gạo, củ khoai, gói mì tôm những tấm áo, đôi dép, quyển sách…để ủng hộ các em có hoàn cảnh nghèo khó để các em có điều kiện nuôi chữ, bám trường. Đội ngũ các thầy cô giáo nơi vùng cao luôn yêu thương đùm bọc nhau cùng giúp nhau vượt khó. Chính tình thương yêu đã là cái gốc cuả sự đoàn kết, thuận hòa. Đến các phân trường vùng cao mới hiểu hết nghĩa tình của thầy cô, mới hiểu hết những vất vả mà hằng ngày họ phải đối mặt. Những việc làm của họ luôn được mọi người khâm phục bởi tấm lòng họ luôn hướng về học sinh nghèo nơi vùng cao.
Chia tay các thầy cô nơi phân trường vùng cao, xuống núi quay nhìn lại những lối mòn hun hút ẩn mình trong đại ngàn xanh thẫm, chờn vờn trong sương muộn chúng tôi vẫn như thấy tiếng hát của cô giáo Thoa, phân trường Phja Pảng (Thượng Ân): “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ biết dành phần ai...” thật xúc động khi nghĩ đến những tấm lòng của thầy cô giáo vùng cao, họ đang hằng ngày gieo mầm những con chữ, những cái nghĩa, cái tình đối với học sinh và lại thấy thấm thía hơn những khó khăn, vất vả những nỗ lực, trách nhiệm của giáo viên nơi đây.
Hồng Hạnh