“3 năm nay ở thôn của em mới có người học đến cấp III, đến trường xa quá định bỏ học vài lần rồi nhưng thấy tiếc vì con 2 năm nữa là em học song phổ thông, em không muốn tương lai mình tăm tối, rồi lại khổ vì ít chữ”. Trên khuôn mặt tròn xinh của em La Thị Đối ở thôn Củm Nhá (xã Lãng Ngâm –Ngân Sơn) luôn nuôi hi vọng là trở thành nữ y sỹ, giúp khám chữa bệnh cho dân bản mình.
![]() |
| Em Mã Văn Thái vẫn hàng ngày đến trường trên chiếc xe đạp cà tàng. |
Đối sinh ra ở thôn Củm Nhá xã Lãng Ngâm huyện Ngân Sơn, nơi em đang ở là một bản vùng cao đặc biệt khó khăn, 100 % đồng bào Mông sinh sống, quanh năm chỉ phát nương làm rẫy và ăn mèn mém thay cơm. Nhưng may mắn hơn các bạn cùng trang lứa là em được gia đình ủng hộ đến trường dù điều kiện, hoàn cảnh kinh tế không lấy gì là khấm khá, bố mất sớm, chỉ còn người mẹ già nuôi 4 chị em Đối.
Chứng kiến cuộc sống của đồng bào mình quá vất vả mà vẫn đói khổ triền miêm, chứng kiến một đời khó nhọc của người mẹ sinh ra em nên càng tạo động lực cho Đối kiên trì đến trường dù ngày mưa hay ngày nắng, dù đường xá có khó khăn. 5 năm học đi đi về về giữa nhà và trường, đôi chân không biết mỏi của em ngày một cứng cáp hơn. Nay Đối đã bước vào lớp 10 Trường THPT thị trấn Nà Phặc (huyện Ngân Sơn), và đến bây giờ em tự hào vì là một trong nhưng 3 học sinh đầu tiên ở thôn Củm Nhá học đến cấp III.
Thực ra ở bản nghèo Củm Nhá quanh năm chỉ biết đến củ khoai, cây ngô, sắn, điện không có, nay đã có người biết chữ như mở mang văn minh cho bản làng. Cán bộ ở xa đến đây công tác không phải lo vì bất đồng ngôn ngữ nữa mà chính người dân bản địa có thể đối thoại bằng tiếng phổ thông. Ngay cả tôi cũng vậy, Đối chính là người phiên dịch tốt để tôi có thể tiếp cận dễ dàng với đồng bào. Cũng giống như hoàn cảnh của Đối, em Mã Văn Thái ở thôn Khuổi Luông xã Lãng Ngâm là một cậu học trò người Mông ngoan hiền, hiện em đang học lớp 7B Trường THCS Lãng Ngâm.
Do sinh ra ở mảnh đất vùng cao nghèo khó nên đến trường với em và các bạn là cả một quá trình cố gắng rất lớn. Nếu không thực sự kiên trì và có sức chịu đựng cao thì em đã bỏ học giữa chừng như một số bạn khác. Tuy vậy cậu học trò nhỏ này dường như đã ý thức được sự cần thiết của việc học nên em đã không nề hà xuống núi đến trường suốt mấy năm qua. Theo em đến trường bên cạnh bao giờ cũng là chiếc xe đạp cà tàng đã cũ kỹ, nó chính là phương tiện trở gạo và thức ăn đắc lực cho em hàng tuần, Thái ở trọ cùng 8 người bạn, xa gia đình nên các em đều tự lập và bảo ban nhau học tập. Nghe Thái nói nhiều lúc thèm cảm giác có bố mẹ ở cổng trường chờ đón đưa đi ăn kem như chúng bạn hay dắt đi chợ chọn mua một chiếc áo ấm mùa đông nhưng với em điều đó ít khi xảy ra.
Sự thật rằng khi tiếp xúc với cuộc sống của các em mới cảm nhận và thấy những thiệt thòi, thiếu thốn của học sinh vùng cao trên con đường học tập. Nhưng trên những khuôn mặt, tâm hồn non trẻ đó vẫn khát khao được học tập, hay chỉ thực hiện những ước mơ giản dị là trở thành thầy giáo, nữ y sỹ... Liên tưởng đến hình ảnh Thái, cậu học trò người Mông 13 tuổi cùng với chiếc xe đạp cà tàng cứ in đậm trong tâm trí tôi, mong rằng em sẽ tiếp thu được nhiều kiến thức từ các thầy cô, các bạn và không phải bỏ học giữa chừng vì bất kỳ lý do gì nữa.
Theo lãnh đạo xã Lãng Ngâm thì mấy năm nay tỷ lệ học sinh vùng cao bỏ học không đáng kể, nhiều gia đình đã có sự nhận thức đúng đắn nên đã tạo điều kiện cho con em mình được đến trường. Bản thân các đơn vị nhà trường thường xuyên vận động, tuyên truyền, làm công tác tư tưởng đến gia đình các em để hạn chế tình trạng bỏ học. Đồng thời huy động các chính sách ưu tiên về giáo dục nhằm giúp cho nhiều trường hợp khó khăn tiếp tục đến trường, lớp.
Nhận thức, hành động của từng cá nhân trong học tập như em Thái hay Đối chính là biểu hiện của yếu tố tích cực trong cộng đồng đời sống vùng cao trong mấy năm nay. Bên cạnh đó cũng phải nhắc đến thực trạng chung hay xảy ra ở vùng cao đó là chuyện bỏ học, có những nơi không có một ai học hết cấp II, thế hệ người lớn tuổi một chữ bẻ đôi cũng chẳng biết vì quan niệm đa phần của họ là học để làm gì trong khi kiếm một miếng ăn còn khó đừng nói là học. Không biết chữ kéo theo nhiều hệ luỵ là nghèo đói triền miên, dễ xa ngã mắc vào các tệ nạn xã hội, hạn chế khả năng giáo dục con cái, sinh đẻ tràn lan...
Trẻ em vùng cao do điều kiện kinh tế, giao thông khó khăn cùng với trình độ nhận thức hạn chế nên tỷ lên đến trường hoặc bỏ học giữa chừng là phổ biến và nguyên nhân thì đã rõ. Tuy nhiên cuộc cải cách giáo dục ở vùng cao không phải là ngày một ngày hai mà phải lâu dài nhưng điều đáng mừng là mấy năm trở lại đây tỷ lệ học sinh vùng cao đến trường tăng lên. Điều đó phải kể đến vai trò tác động rất lớn từ nhà trường, chính quyền địa phương, bậc phụ huynh, thực tế khi được hoà nhập học tập, rèn luyện tốt nhiều em đã phát huy được tố chất học tập. Cuộc sống nơi vùng cao muốn thoát nghèo thì phải bắt đầu từ gốc rễ của việc giáo dục./.
Thu Trang
