Bắc Kạn có trữ lượng đá vôi vào khoảng 150 triệu mét khối, đem lại tiềm năng lớn cho ngành công nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng. Tuy nhiên hầu hết các mỏ này sử dụng công nghệ thấp, ảnh hưởng nhiều tới sản lượng, an toàn lao động và môi trường.
Tính đến tháng 12/2009, trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có 23 điểm mỏ khai thác đá vôi đã được cấp cho các doanh nghiệp khai thác. Các mỏ đá được phân bố rải rác ở hầu hết tất cả các huyện, thị trong tỉnh, tập trung nhiều nhất ở các huyện Na Rì, Chợ Đồn, Ba Bể. Trong những năm qua, sản lượng khai thác của các điểm mỏ này đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng của tỉnh, góp phần phát triển kinh tế địa phương.

Khai thác và vận chuyển đá vôi tại mỏ đá Suối Viền.
Tuy nhiên, khi các cơ sở khai thác đá đi vào hoạt động đã bộc lộ một số vấn đề, cụ thể như: Công nghệ khai thác đá còn rất thô sơ chưa sản xuất ra sản lượng đá tương xứng với tiềm năng; môi trường khu vực xung quanh mỏ bị ảnh hưởng và xảy ra tình trạng mất an toàn lao động.
Nhằm đề xuất các giải pháp khai thác đá hợp lý, tạo ra năng suất cao tương xứng với tiềm năng và bảo vệ môi trường, an toàn lao động. Vừa qua Sở Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Bắc Kạn đã chủ trì thực hiện và nghiệm thu đề tài "Đánh giá hiện trạng, xây dựng mô hình công nghệ khai thác hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường tại các mỏ đá vôi tỉnh Bắc Kạn".
Sau khi điều tra hiện trạng công nghệ, môi trường ở 23 mỏ đá vôi trên địa bàn tỉnh, đề tài đã phân loại các mỏ, theo từng tiêu chí cụ thể. Theo kích thước khai trường, công suất và tuổi thọ thì chỉ có mỏ Nà Hai (Quảng Khê) được xếp vào hạng mỏ nhỏ, các mỏ còn lại thuộc hạng rất nhỏ.
Theo mức độ công nghệ chế biến, có 7 mỏ (Suối Viền, Cốc Ngận, Khưa Trạng, Bản Tặc, Lũng Mò, Lũng Điếc, Cáy Phặc) trang bị hệ thống nghiền sàng phân loại sản phẩm tương đối đồng bộ. Các mỏ khác vẫn dùng hệ thống nghiền sàng công suất thấp, ô nhiễm bụi, ồn nhiều.
Đánh giá theo góc độ tác động môi trường, các mỏ cơ bản đều cách xa khu vực dân cư. Có 3 mỏ nằm tương đối gần khu vực dân cư, đó là: Nà Cà, Lũng Điếc, Kẹm Trình, trong quá trình khai thác gây ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động của người dân.
Đáng chú ý, qua điều tra của ngành chức năng cho thấy: 100% các mỏ điều tra đều vi phạm các quy định hiện hành của nhà nước về khai thác mỏ, khai thác không đúng thiết kế được duyệt. Hầu hết thiết kế cơ sở của các mỏ đều lựa chọn “Hệ thống khai thác theo lớp đứng, cắt tầng nhỏ, vận chuyển đất đá bằng khoan nổ mìn”, tuy nhiên trong thực tế không mỏ đá nào khai thác theo hệ thống đã thiết kế. Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ tâm lý của nhà đầu tư, muốn khai thác theo cách "tiện" nhất, chi phí thấp nhất. Xuất phát từ đó, hầu hết các doanh nghiệp đều từ chối tham gia triển khai trình diễn công nghệ do đề tài đề xuất.
Về nhân lực, số người lao động chưa qua đào tạo đúng chuyên ngành hoặc gần với chuyên ngành chiếm tới 76,36%. Mặc dù các mỏ hầu hết đều đã được đánh giá tác động môi trường, cam kết thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, tuy nhiên trên thực tế vấn đề ô nhiễm bụi, tiếng ồn... các doanh nghiệp vẫn chưa có được giải pháp khả thi.
Về an toàn lao động, một số mỏ đầu tư các hệ thống nghiền, sàng giảm thiểu hoạt động trực tiếp của người lao động, sản phẩm đầu ra phong phú hơn, tuy nhiên nguy cơ mất an toàn lao động ở các mỏ đều ở mức cao. Hầu hết ở các mỏ, người lao động đều không sử dụng đủ các trang thiết bị bảo hộ trong quá trình sản xuất. Quá trình phá vỡ đá quá cỡ bằng tay còn phổ biến, gây mất an toàn cho người lao động.
Những vấn đề mà đề tài nói trên nêu ra đang đặt ra cho công nghiệp khai thác đá của Bắc Kạn những thách thức lớn. Để tỉnh đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, trong đó đẩy mạnh tăng trưởng lĩnh vực công nghiệp và xây dựng cơ bản, rõ ràng cần sự vào cuộc thực sự của cả ngành quản lý lẫn doanh nghiệp. Việc khai thác khoáng sản nói chung theo hướng khoa học, bền vững sẽ giúp phát huy tiềm năng, đem lại lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp và có lợi cho người lao động./.
T.K