Nguyên nhân người dân Phiêng Luông không còn mặn mà với việc trồng rừng nguyên liệu
14:15' 16/11/2011 (GMT+7)
Thời gian gần đây, nhiều hộ dân ở thôn Phiêng Luông, xã Thanh Mai (Chợ Mới) bức xúc và cho rằng, cơ chế quản lí đầu tư trồng rừng nguyên liệu của Lâm trường Chợ Mới đang thực hiện đối với người trồng rừng cho Lâm trường hiện nay là chưa thoả đáng.
Trao đổi với chúng tôi, ông Đỗ xuân Lộc-Bí thư chi bộ thôn cho biết: Phiêng Luông hiện có 65 hộ, người dân trong thôn hầu hết là con em của công nhân lâm nghiệp trước đây. Đời sống của họ chủ yếu dựa vào sự hưởng lợi từ việc nhận khoán trồng rừng nguyên liệu, bởi phần lớn diện tích rừng ở thôn đều do Lâm trường Chợ Mới-đơn vị phụ thuộc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn quản lí.
![]() |
| Nhiều diện tích rừng nguyên liệu ở Phiêng Luông, Thanh Mai (Chợ Mới) đã đến tuổi khai thác. |
Mấy năm trở lại đây, phong trào trồng rừng ở các địa phương trên địa bàn tỉnh phát triển mạnh, những hộ được giao đất lâm nghiệp để trồng rừng được hưởng lợi rất lớn từ phát triển rừng. Song, đối với các hộ ở Phiêng Luông, hợp đồng nhận khoán trồng rừng cho Lâm trường chưa được hưởng lợi một cách thoả đáng. Nếu so sánh định mức đầu tư trồng rừng trong dân hiện nay với hộ trồng rừng cho Lâm trường có sự chệnh lệch khá lớn. Hơn nữa, cơ chế hưởng lợi của người dân đến chu kì khai thác cũng còn nhiều bấp cập, chính điều này đã gây bức xúc cho người dân, làm cho họ không còn mặn mà với việc trồng rừng nguyên liệu.
Qua tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi được biết, cơ chế áp dụng định mức đầu tư đối với hộ nhận khoán trồng rừng trong hợp đồng giữa Lâm trường Chợ Mới và người dân Phiêng Luông được thể hiện như sau: Đối với rừng trồng cây keo, người dân được cung cấp cây con giống, phân bón, hỗ trợ nhân công lao động. Về cây con giống là 1.760 cây/ha (bao gồm cả 10% cây giống trồng dặm); phân bón là 240 kg/ha. Tổng chi phí về giống và phân bón khoảng 2,7 triệu đồng. Hỗ trợ chi phí nhân công lao động trực tiếp là 4.120.500đ/ha; chăm sóc năm thứ hai 1.859.700 đ/ha, năm thứ ba 1.115.800đ/ha. Sau tám năm rừng đến chu kì khai thác, mỗi 1 ha người trồng rừng được hưởng 15% sản lượng cây đứng, phần còn lại là của Lâm trường. (Những diện tích rừmg trồng trước năm 2008, người dân chỉ được hưởng 12% sản lượng cây đứng). Tuy nhiên, trong 15% mà người dân được hưởng lợi họ không có quyền chủ động trong việc khai thác bán ra thị trường, mà phải bán gỗ lại cho Lâm trường theo hợp đồng đã cam kết ban đầu. Với cơ chế này, người dân cho rằng định mức đầu tư hỗ trợ cho hộ trồng rừng hiện quá thấp, chưa phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay. Hơn nữa, số phần trăm mà người dân được hưởng lợi lại không có quyền chủ động khai thác, mà phải phụ thuộc vào Lâm trường là chưa hợp lí.
Theo ông Hoàng Văn Dũng, một trong những hộ nhận khoán trồng rừng cho Lâm trường cho biết: Gia đình ông đang thực hiện 2 hình thức trồng rừng, vừa trồng rừng nguyên liệu cho Lâm trường, vừa trồng rừng kinh tế của gia đình. Về định mức đầu tư trồng rừng trên đất của gia đình được giao quản lý, nếu thực hiện 1ha trồng mới, kể cả trồng sau khai thác trắng, thì từ việc mua giống, phân bón, phát, dọn, cuốc, lấp hố…đến lúc trồng xong phải đầu tư khoảng 10 triệu đồng (chưa bao gồm cộng thêm chi phí chăm sóc năm thứ 2 và 3), trong khi trồng rừng cho Lâm trường được cấp giống, phân bón và được hỗ trợ chi phí nhân công lao động, nhưng cộng tất cả lại mới chỉ khoảng 7 triệu đồng. Ông Dũng cho biết thêm, để trồng được 1ha rừng, từ khâu xử lí thực bì đến lúc trồng xong phải mất khoảng 120 công lao động, với chi phí hỗ trợ nhân công của Lâm trường hiện nay trả cho người dân hơn 4,1 triệu đồng/ ha, chia bình quân cho từng ngày công của người lao động còn quá thấp.
Bên cạnh đó, cơ chế quản lý khai thác cũng còn nhiều bất cập, người dân được hưởng lợi đã thấp lại buộc phải bán gỗ cho Lâm trường theo hợp đồng, nhưng giá lại rẻ hơn nhiều so với giá thị trường. Ông Đỗ Xuân Lộc cho biết thêm, hiện nay Lâm trường chỉ trả cho người dân 400 nghìn đồng/m3 gỗ. Nếu người trồng rừng nhận khai thác thì được Lâm trường trả công thêm là 165 nghìn đồng/m3. Trong khi đó, gỗ ở tại chỗ bán ra thị trường có giá thấp nhất là 550.000 đồng/m3; tiền công các hộ tự thuê khai thác rừng trồng trong dân cũng cao hơn từ 20-30 nghìn đồng/m3. So sánh giá cả chệnh lệch như vậy nên nhiều người dân không còn thiết tha với việc khai thác rừng trồng cho Lâm trường. Chính vì thế, thời gian vừa qua giữa Lâm trường và người trồng rừng đã có sự bất đồng dẫn đến nhiều vẫn đề nảy sinh chưa được giải quyết một cách thấu đáo. Tuy nhiên, bản hợp đồng đã được kí kết có sự thoả thuận của hai bên trước đó lại chính là cơ sở pháp lí để ràng buộc, cho dù người dân không muốn vẫn phải thực hiện.
Được biết, những vấn đề bức xúc liên quan đến cơ chế trồng rừng nguyên liệu ở Phiêng Luông, đã được Lâm trường Chợ Mới và Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn lưu tâm giải quyết. Về định mức đầu tư trồng mới cũng như mức hưởng lợi của người dân đến chu kì khai thác, đã được điều chỉnh theo hướng có lợi hơn cho người trồng rừng. Tuy nhiên, so với tình hình thực tế, cơ chế hỗ trợ người dân của Lâm trường Chợ Mới hiện nay cũng còn nhiều bất cập. Vì vậy, để khuyến khích người dân gắn bó với việc trồng rừng nguyên liệu, thiết nghĩ tới đây, Lâm trường Chợ Mới và người dân cần có sự thoả thuận, thống nhất để những năm tới có một cơ chế mới phù hợp hơn, bảo đảm quyền lợi chính đáng cho cả hai bên./.
L.B
