Người có duyên với công tác dân số
20:13' 18/12/2009 (GMT+7)

 Nhanh nhẹn, năng động, nhiệt tình đó là ấn tượng ban đầu mà tôi tiếp xúc với chị Trịnh Thị Lư - Chuyên tránh dân số KHHGĐ xã Yên Hân (Chợ Mới). Nhờ đó mà  chị dã góp phần thực hiện tốt công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình ở địa phương, 9 năm liền xã Yên Hân không có người sinh con thứ 3, bản thân chị đã được nhận bằng khen từ cấp Trung ương và cấp tỉnh.

chi-Lu.gif

Chị Trịnh Thị Lư (trái) đang tư vấn cách chăm sóc sức khoẻ, làm mẹ an toàn cho bà mẹ và trẻ em trong xã.


Nói đến vai trò của chuyên trách dân số nghe thật giản đơn nhưng khi đi vào thực tế thì mới thấy một khối lượng lớn công việc và không kém phần khó khăn, nhất là lại hoạt động dân số ở địa và vùng sâu, vùng xa.

Với đặc thù như vậy buộc người làm dân số không chỉ nói hay, làm tốt, đi nhiều mà còn phải nắm bắt giỏi tâm lý, thuyết phục được chị em. Để duy trì được kết quả 9 năm liền không có trường hợp sinh con thứ 3 trên địa bàn vùng cao như xã Yên Hân thật chẳng dễ dàng gì đó là cả quá trình bám sát địa bàn, theo sát đối tượng tại cơ sở và chị Trịnh Thị Lư, Chuyên trách dân số xã Yên Hân đã làm được như thế.

Năm 1994 chị được tín nhiệm phân công làm công tác dân số, với chút kinh nghiệm đã từng làm nữ hộ sinh nên chị bước vào vai trò chuyên trách dân số khá tốt. Khi đó ở Yên Hân còn là vùng đất hoang sơ,  dân thưa thớt, rừng núi heo hút rậm rạm, đường đi lối lại chủ yếu là đường đất.

Làm công tác dân số lúc bấy giờ quả là nan giải vì trình độ nhận thức đa phần đồng bào còn hạn chế, tình trạng sinh con thứ 9, thứ 10 còn phổ biến, nhiều hủ tục lạc hậu ăn sâu vào tiềm thức của người dân mà không dễ gì xoá bỏ.

Trước khó khăn như vậy chị Lư chỉ tâm niệm rằng cần phải làm tốt vai trò của mình. Không nề hà trước hàng “núi” việc, hành trình làm dân số của chị bắt đầu từ con số 0, sức khoẻ của tuổi trẻ đã không ngại đưa chị đến các gia đình ở vùng sâu, vùng xa, đối tượng ban đầu mà chị lựa chọn để tiếp cận là hộ nghèo, sinh đẻ tràn lan.

Những năm 1995 phong tục tập quán ở vùng sâu, vùng xa còn lạc hậu, nhận thức của nhân dân hạn chế nên lời nói chị đưa ra chưa hề có hiệu quả mà thậm chí còn bị phản tác dụng, có trường hợp còn quan niệm “Đẻ nhiều là trời ban phước, làm cái việc bắt người khác cấm đẻ chẳng khác nào là làm việc thất đức, không có hậu”.

Trong quá trình đi vận động thậm chí chị còn bị mắng, xua như xua tà, biết bao lần như vậy nhưng với chị dần dần đã trở thành thói quen vì trong suy nghĩ chị hiểu rằng đó là phản ứng rất bình thường khi mình làm việc này, chưa thuyết phục được lần này thì ta lại tiếp tục đến lần khác.

Cứ như vậy cho tới lúc họ nhận ra rằng đó là việc làm đúng thì chị mới yên tâm ra về. Trong quá trình đi vận động, tư vấn, thuyết phục chị em phụ nữ áp dụng các biện pháp tránh thai, làm mẹ an toàn, triển khai các chương trình dân số –KHHGĐ, Luật bình đẳng giới...chị đã kết hợp với các hội đoàn thể, lồng ghép nội dung vào những buổi họp thôn nên dần dần hiệu quả nâng lên rất nhiều.

Nếu như năm 1994 số trẻ sinh ra trong năm là 40 trong đó trẻ sinh con thứ 3 trở lên là 14 trẻ, tỷ lệ suy dinh dưỡng chiếm trên 40%, số cặp vợ chồng hầu như còn chưa biết áp dụng các biện pháp tránh thai thì nay trường hợp sinh con thứ 3 đã không còn, các trường hợp trong độ tuổi sinh đẻ đã biết sử dụng biện pháp tránh thai an toàn, tỷ lệ nạo phá thai ngoài ý muốn ngày càng giảm, nhiều người đã dần nhận thức ra rằng sinh con đông đồng nghĩa với việc đói nghèo, hạn chế khả năng chăm sóc, giáo dục con cái.


Công việc chị làm có sự hỗ trợ rất lớn của các cộng tác viên (CTV) dân số, để xây dựng được mạng lưới công tác viên năng động, có trách nhiệm trong mỗi lần đến tư vấn trong dân chị đều kết hợp CTV đi cùng để giúp họ quan sát nghe chị nói, cách chị làm, vì đây chính quá trình đào tạo CTV hiệu quả nhất.

Đến nay 9/9 thôn bản của xã Yên Hân đều có CTV dân số, nhờ đội ngũ này nên công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình trên địa bàn đã có sự chuyển biến rõ rệt và ổn định cho đến bây giờ. Trong những năm làm dân số, chị kể lại có kỷ niệm đáng nhớ nhất xảy ra đó là 2 trường hợp làm mẹ bị câm điếc, có con nhưng không chồng. Đây là đối tượng khá đặc biệt nên việc tư vấn và thuyết phục họ áp dụng các biện pháp tránh thai là vô cùng nan giải.

Lúc đó chị tiếp cận với họ không phải bằng ngôn ngữ mà là cử chỉ, ám hiệu, qua những động tác mà chị thể hiện dần dần họ đã ngộ nhận và hiểu điều chị muốn nói và việc họ cần nên làm. Sau lần đó, chị đã được gia đình người câm điếc tìm đến tận nơi để cảm ơn, họ không coi chị là “làm việc thất đức nữa” mà coi chị là “người làm điều thiện”.


Hành trình 15 năm là chuyên trách dân số nếm đủ đắng cay, ngọt bùi, có những lúc chỉ muốn dừng chân lại để thôi làm cái việc mà người ta “ghét” đó nhưng tất cả vì 2 từ “trách nhiệm” vì duyên cơ chị phải gắn bó với công việc này, từ đỡ đẻ, khám thai, đặt vòng..đến làm tư vấn, tuyên truyền dân số, tất cả chị đều đã đi qua.

Từ cái ngày nhận được đồng lương 80 nghìn đồng/tháng cho đến giờ cũng chỉ vẻn vẹn là 200.000 đồng, số tiền mà chị nhận được nếu để so sánh với khối lượng công việc đã làm thì thật chẳng bõ nhưng vì “nghề”, vì “trách nhiệm với bà con”.

So với tất cả những gì mà chị Lư đã cống hiến cho hoạt động dân số thì cũng thật thiệt thòi vì thời kỳ đó chưa có chế độ đóng bảo hiểm cho cán bộ dân số, hoặc tham gia bảo hiểm tự nguyện. Chị chỉ mong nhà nước tạo điều kiện được truy đóng bảo hiểm từ khi bước vào làm dân số để đến khi về hưu sẽ có đồng trợ cấp tuổi già./.


T.Trang

Ý kiến của bạn

*
*
*
,
,
,
,