Biến đổi khí hậu đang làm quá trình sa mạc hoá diễn biến ngày càng mạnh mẽ, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân. Ở tỉnh ta, quá trình này tuy tác động không nhiều, nhưng từ năm 2006 cho đến nay, các cấp ngành chức năng và người dân vẫn có những hành động thiết thực nhằm ngăn chặn nó.
Nhờ có tỷ lệ che phủ rừng cao 56,2% nên Bắc Kạn hạn chế tốt những tác động của sa mạc đến đất lâm nghiệp (Trong ảnh: Rừng thông xã Đức Vân, huyện Ngân Sơn phát triển tốt)

Là một tỉnh miền núi thuộc vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, Bắc Kạn có diện tích tự nhiên 48.941 ha, trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp 37.494 ha, gồm đất trồng cây hằng năm 31.962 ha (chủ yếu là đất trồng lúa), đất trồng cây lâu năm 5.532 ha; đất lâm nghiệp với diện tích qui hoạch là 388.049 ha, chiếm 79,7% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; đất khác 60.397 ha.
Với diện tích đất sản xuất nông nghiệp ít ỏi, chiếm khoảng gần 8% diện tích tự nhiên nên công tác bảo vệ, cải tạo loại đất trồng này được đặc biệt quan tâm. Do trình độ canh tác còn lạc hậu, lượng phân bón sử dụng còn thấp, khả năng đầu tư thâm canh còn hạn chế nên ít ảnh hưởng tới quá trình thái hoá đất. Tại một số địa phương có địa hình đồi núi dốc, quá trình rửa trôi mạnh như: Pác Nặm, Chợ Mới…các ngành chức năng phối hợp cùng địa phương triển khai Dự án ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình thâm canh một số cây trồng nông nghiệp trên đất dốc nhằm tăng năng suất và sản lượng lương thực. Người dân tham gia dự án được thực hiện các mô hình sản xuất lúa cạn LC93 – 1, ngô xen đậu tương, ngô lai với hệ thống băng cây xanh chống xói mòn. Hiệu quả của dự án mang lại cho người dân rất thiết thực, không chỉ nâng cao giá trị kinh tế cho họ mà còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái vùng đất sản xuất dốc.
Về diện tích đất lâm nghiệp, do độ che phủ rừng lớn khoảng 56,2% (năm 2009) nên hiện tượng rửa trôi, xói mòn chỉ xảy ra cục bộ nhưng đáng kể ở những vùng người dân còn canh tác nương rẫy luân canh, khoảng 17.000 ha, chiếm khoảng 3,5% diện tích tự nhiên.
Một mối nguy cơ khác dẫn đến quá trình sa mạc hoá đất sản xuất nông lâm nghiệp của tỉnh là thời tiết nắng nóng, khô hạn. Nhìn chung tình hình hạn hán từ năm 2006 – 2008 diễn biến bình thường, nằm trong tầm kiểm soát và khả năng khắc phục được của tỉnh. Tuy nhiên, từ cuối năm 2009 đến vụ xuân năm 2010, do khô hạn kéo dài đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và tình hình sản xuất nông lâm nghiệp của toàn tỉnh. UBND tỉnh và ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tập trung chỉ đạo các địa phương tăng cường các biện pháp khắc phục hạn hán để sản xuất như: nạo vét kênh mương, sử dụng máy bơm dã chiến, chuyển đổi cơ cấu cây trồng…Nhờ vậy trong 1.431 ha lúa vụ xuân năm 2010 bị khô hạn đã khắc phục được 1.239 ha, năng suất lúa vụ xuân vẫn đạt cao khoảng 47 tạ/ha.
Cũng nằm trong những hành động hưởng ứng Chương trình hành động Quốc gia chống sa mạc hoá, tỉnh ta còn thực hiện 2 dự án liên quan đến lâm nghiệp là Dự án Rà soát qui hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Bắc Kạn và Dự án Qui hoạch xác định mốc giới 3 loại rừng tỉnh Bắc Kạn. Mục đích của 2 dự án này là giúp ngành chức năng và UBND tỉnh nắm được thực trạng rừng Bắc Kạn để từ đó đưa ra chiến lược phát triển kinh tế rừng hợp lý, nhằm tạo sinh kế bền vững cho người dân sống gần rừng và bảo vệ môi trường sinh thái, chống thái hoá, sa mạc hoá đất sản xuất lâm nghiệp.
Ngoài ra tỉnh ta cũng đang đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hỗ trợ kinh phí thực hiện Dự án Hỗ trợ người dân vùng cao canh tác nông lâm nghiệp bền vững trên đất nương rẫy. Đây chính là những bước đi, những hành động thiết thực nhất mà Bắc Kạn đã và đang làm để cùng với cả nước chống lại hiện tượng sa mạc hoá./.
Xuân Nghiệp